Chia sẻ

Nhà Thờ gỗ
Đến với thành phố Kon Tum có một địa chỉ mà du khách không nên bỏ qua đó là nhà thờ Chánh Tòa bằng gỗ đẹp và độc đáo có tuổi đời gần trăm năm.

Theo tư liệu lịch sử, vào những năm giữa thế kỉ 19, có một con đường dài 120 km tên gọi là con đường “Muối, gốm sứ và cồng chiêng” từ Quảng Ngãi lên KonTum. Con đường này hẻo lánh, hoang vu, gập ghềnh từ ngã ba Thạch Trụ, Quảng Ngãi qua Ba Tơ, đèo Violắc là con đường buôn muối, gốm sứ và cồng chiêng hoặc các vật dụng giao thương giữa người Kinh và người dân tộc trong khu vực. Khi đó, những người truyền giáo Pháp cũng đã theo con đường này để bắt đầu công cuộc truyền giáo của mình và bắt đầu xây dựng các nhà thờ bằng gỗ hoặc tre, tranh nhỏ để truyền đạo. Ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng vào năm 1870. Cho đến khi bắt đầu đông giáo dân, Linh mục Giuse Decrouille được giao cai quản xứ đạo Kon Tum. Vào năm 1913 ông quyết định xây dựng ngôi nhà thờ lớn với vật liệu là gỗ cà chít. Công việc xây dựng ngôi nhà thờ kéo dài đến năm 1918 mới hoàn tất. Dù đã trải qua bao biến thiên lịch sử, cho đến nay ngôi nhà thờ vẫn không hề bị hư hỏng mà vẫn vững chắc.
Nhà thờ gỗ Kon Tum là một kiệt tác bởi được thiết kế theo kiến trúc Romantic, phối hợp hài hoà kiểu nhà sàn của người Ba Na nên đậm sắc thái văn hóa, tín ngưỡng người dân cao nguyên từ những đường nét họa tiết đến những điểm nhấn trên chất liệu. Nhà thờ là một công trình khép kín gồm: giáo đường, nhà tiếp khách, nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo, nhà rông. Ngoài ra còn có cô nhi viện, cơ sở may, dệt thổ cẩm, cơ sở mộc.
Công trình này được xây dựng bằng gỗ do những người thợ mộc lành nghề đến từ Bình Định và Quãng Ngãi. Trần và tường nhà thờ được xây bằng đất trộn rơm theo kiểu làm nhà truyền thống của người miền Trung. Công trình được làm hoàn toàn bằng một loại gỗ đặc trưng nơi đây là gỗ Cà Chít và các bức tường, vách được làm bằng đất trộn rơm, không dùng bê tông cốt thép và kể cả vôi vữa để sơn trét. Mặt tiền nhà thờ được chia thành bốn tầng cao 24 mét, gồm bốn cột chính và hai cột phụ nối kết với nhau thành những vòng cung nâng toàn khối nhà thờ với kích thước nhỏ dần khi lên cao, lưng chừng tháp là bốn ô cửa sổ kính màu hình tròn với nhiều thanh gỗ cong đồng tâm được sắp xếp một cách hoàn hảo tạo cho cửa sổ mang dáng dấp một con mắt nơi chính diện của nhà thờ. Trên đỉnh tháp là cây thánh giá bằng gỗ quý cao vút, thể hiện sự uy nghiêm và vĩnh cửu của ngôi thánh đường.
Khung sườn của nhà thờ gồm bốn hàng cột gỗ cao 12 mét chạy dài từ mặt tiền đến phòng áo, hai hàng cột giữa lớn tạo nên gian chính rộng, cao và thoáng mát. Hai hàng cột ngoài nằm sát vách là hai gian phụ với trần nhà thấp hơn, cả bốn hàng cột trụ trên các đế đá vững chắc có sức chịu đựng với thời gian, nâng đỡ cả trọng lượng của ngôi thánh đường.
Bên trong nhà thờ có nhiều hàng cột nhỏ được liên kết với nhau bằng các vòng cung gỗ tạo thành hình vòm đỡ các cửa sổ phía trên như ôm trọn những ai vào giữa lòng nhà thờ. Bên trong thánh đường có nhiều khung cửa kính màu vẽ lại các điển tích trong kinh thánh, các khung cửa này vừa có tác dụng lấy ánh sáng trời tự nhiên, vừa tạo thêm vẻ rực rỡ tráng lệ cho ngôi giáo đường. Hệ thống cột gỗ, rui mè trong nhà thờ tuy không chạm khắc tỉ mỉ, công phu nhưng chính những hoa văn với những đường nét mạnh mẽ, phóng khoáng đã thể hiện được cái khí chất của đồng bào bản địa Tây Nguyên.
Trên tường rơm là những bức tranh kính màu về Chúa, Đức Mẹ rực rỡ khi ánh nắng vùng cao xuyên qua…
Khu hoa viên của nhà thờ có bức tượng Đức Mẹ hai tay nâng bế Chúa Hài Đồng được làm từ một thân gỗ nguyên sơ, tạc theo phong cách mộc mạc của các dân tộc Tây Nguyên. Chiếc thánh giá và các tượng trang trí bên ngoài lẫn bên trong nhà thờ như các con chiên, các tượng thánh bằng gốc rễ cây rừng làm không gian mang đậm màu sắc đại ngàn.
Có thể đến thăm nhà thờ gỗ Kon Tum vào bất cứ thời điểm nào. Nếu vào mùa hoa đậu nở, trên đường tới nhà thờ bạn sẽ gặp sắc hồng, sắc trắng của những con đường hoa làm lộng lẫy thêm nhan sắc KonTum. Nếu bạn đến vào dịp lễ Giáng Sinh, bạn sẽ gặp tại đây cả nghìn giáo dân đủ tộc người tìm đến nhà thờ, họ ở lại ngay bãi đất trống bên phải có khi cả tuần để tham dự lễ. Đó là những ngày nhà thờ náo nhiệt, đầy sức sống với cảnh mua bán tấp nập. Và trong phiên chợ này có rất nhiều sản phẩm thủ công từ các buôn làng đem theo bày bán. Còn nếu đến nhà thờ vào một ngày bình thường nào đó, sẽ gặp sự thầm lặng của một giáo đường. Hàng ghế hai bên hông nhà thờ vào lúc làm lễ là chỗ để giáo dân cầu nguyện, lúc này thành chỗ cho các em học sinh dùng để ôn bài học tập.

Nhà ngục Kon Tum
Nằm ở bờ Bắc về phía hạ lưu sông Đăk Bla đoạn vắt ngang thành phố Kon Tum xinh đẹp, êm đềm, Di tích lịch sử Ngục Kon Tum cùng với Bảo tàng tổng hợp tỉnh như một điểm nhấn vào mắt du khách khi ngược xuôi trên con đường thiên lý Hồ Chí Minh chạy suốt từ Bắc vào Nam, đoạn qua miền Trung uốn lượn. Trong chặng đường lịch sử của tỉnh Kon Tum, sự kiện “Cuộc đấu tranh lưu huyết” ngày 12/12/1931 và “Cuộc đấu tranh tuyệt thực” từ ngày 12 đến ngày 16/12/1931 của những người tù chính trị tại nhà Ngục Kon Tum mãi mãi là khúc tráng ca bất diệt về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm của các chiến sỹ cộng sản đã làm cho kẻ thù khiếp sợ, mãi mãi là tấm gương oanh liệt cho các thế hệ mai sau.

Ngục Kon Tum

Ngược dòng lịch sử, ta biết Ngục Kon Tum (Lao trong) được thực dân Pháp bắt tay xây dựng từ năm 1905 đến cuối năm 1917 mới hoàn thành. Ngục Kon Tum xây bên cạnh một rãnh nước lớn kế cận ngục phía Đông – Bắc là đường 14 (nay là đường Phan Đình Phùng – trục đường Hồ Chí Minh chạy qua thành phố Kon Tum); Tây – Nam là đồn lính khố xanh; Đông – Nam là tòa sứ, dinh quản đạo bù nhìn, Sở Cảnh sát. Chúng đặt Ngục Kon Tum vào thế bị bao vây cô lập. Để dễ bề kiểm soát chúng đào một rãnh sâu dài 150m, rộng 100m, thiết kế tại đó bốn dãy nhà theo hình hộp (vuông) diện tích khoảng 2,5ha, bốn góc ngục có 4 lô cốt xây nổi lên, đêm ngày canh phòng cẩn mật. Nhà lao xây theo kiểu pháo đài Vauban (Vô-băng) xưa của Pháp thuộc thế kỷ 17. Mái lợp ngói, vách bằng tocsi quét vôi, bốn bề không có tường bao quanh che kín như các nhà lao khác, bốn nhà dọc ngang xây liền lại với nhau thành một hình vuông, mỗi bề 18m thì có một cửa ra vào và hai chòi cao để lính gác có thể quan sát trong và ngoài lao; ở giữa là một cái sân vuông nhỏ hẹp, bề rộng của một dãy là 3,5m trong đó để 2m lát ván nằm, 1,5m là đường đi, người nằm trên sàn ván nhìn thấy ngoài sân.

Phòng trưng bày trong Ngục Kon Tum
Năm 1930, phong trào cách mạng ở Trung kỳ sôi nổi. Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi,… các cuộc biểu tình liên tiếp xảy ra. Trong các cuộc biểu tình đó ngoài số người bị địch bắn chết ngay còn số bị bắt giam ở các lao cũng có tới hàng trăm ngàn người. Bấy giờ thực dân Pháp muốn lấy nhân công để khai phá các nơi nổi tiếng là rừng thiêng nước độc như Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Kon Tum… Chúng bèn lợi dụng nhân công tù phạm. Lúc này viên công sứ Kon Tum lúc bấy giờ là Jerusalemy nhân muốn làm xong con đường 14, bèn xin gửi chính trị phạm lên và lập ở Kon Tum một nhà ngục – đó là hoàn cảnh ra đời của Ngục Kon Tum (Lao ngoài).
Nhà đày Kon Tum gồm có 2 nhà giam, 1 nhà lớn và 1 nhà nhỏ, ở giữa hai nhà ấy là nhà lính gác, sườn nhà toàn bằng sắt: cột, kèo, xà, trích…mái lợp tôn nên có tên là nhà Lao kẽm hay nhà Lao sắt, bốn phía vách đều thưng bằng nứa, tre đập dập với dây thép gai chằng chịt qua lại dày đặc, phía hồi nhà có một cửa ra vào nhỏ hẹp, cánh cửa cũng bằng dây thép gai chằng chịt, trước cửa ra vào có một cái chòi gác của lính.
Nhà lớn có bề dài ước độ 18 hoặc 20m, bề rộng ước từ 12 đến 14m (hai gian rộng với ba vày cột kèo sắt), người ta nói địch lấy cột nhà sửa chữa ôtô nào đó về làm nhà lao; trong lòng nhà có 4 sạp rộng, hai hàng tù nằm gối đầu với nhau, sạp này cách sạp kia độ 2m, cuối chân sạp là 4 hàng cùm đứng sừng sững, nhà lao lớn này có thể giam được trên dưới 100 tù. Còn nhà thứ 2 nhỏ hơn có thể giam được 60 người. Nhà này vừa là nhà giam tù đang đi làm, vừa là nhà giam những người ốm nằm liệt, lính gọi là bệnh xá và chúng cũng gọi mỉa mai là “nhà khách” của tù.
Cái nhà nhỏ ở giữa là nhà lính, được đóng đơn sơ để lính dễ trông thấy bốn bề. Đặc điểm nổi bật của nhà đày này là bốn bề xung quanh không có thành xây giữ kín như các nhà tù khác, nó đứng trống trải trên bãi sông, bãi cát, không có chòi canh cao, không có bếp nấu ăn, không có hồ nước, không có nhà vệ sinh, ban đêm không có đèn… Nó thiết kế và xây dựng xem ra đơn giản nhưng lại lợi hại, bởi vì bốn bề trống trải, không có chỗ nào ẩn nấp, hễ tù có hành động gì thì ở ngoài lính phát hiện được ngay.
Đến tháng Chạp năm 1930 tại Ngục Kon Tum có tới 297 tù phạm. Trong số 297 người đó trừ 2 chị phụ nữ, còn lại 295 người chỉ trong thời gian 6 tháng, từ tháng Chạp năm 1930 đến tháng 6 năm 1931 làm đoạn đường từ Đăk Sút, Đăk Pao, Đăk Tao đến Đăk Pét, trải qua biết bao thảm khốc, cực khổ. Trong số 295 người đi có 170 người phải bỏ xác ở chốn rừng xanh núi đỏ.
Ở Ngục Kon Tum thực dân pháp đã thi hành những chính sách cực kỳ dã man, tàn bạo đối với tù chính trị. Cũng tại Ngục Kon Tum chứng minh cho chúng ta một điều, sự xảo quyệt độc ác và súng đạn của kẻ thù không thể khuất phục được tinh thần cách mạng kiên trung, ý chí sắt đá kiên cường, bất khuất của các chiến sĩ cộng sản. Dù hoạt động ở trong bất kỳ môi trường nào, khí tiết cách mạng của những người cộng sản vẫn được giữ vững. Cụ thể là qua cuộc đấu tranh Lưu huyết ngày 12 tháng 12 năm 1931 và cuộc đấu tranh tuyệt thực diễn ra từ ngày 12 tháng 12 đến ngày 16 tháng 12 nắm 1931. Bọn cầm quyền ở đây bất lực trước sức mạnh đoàn kết và tinh thần cách mạng của anh em tù. Chúng trở nên hung dữ, nã súng vào đám người tay không, chỉ mấy phút đồng hồ mà chúng làm cho 8 người chết và 8 người bị thương trong ngày 12 tháng 12 tháng 1931 và cách 4 ngày sau (ngày 16 tháng 12 năm 1931) lại thêm 7 người chết và 7 người bị thương.

Ngục Kon Tum được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
Đứng trước âm mưu chiến lược diệt trừ cộng sản của kẻ thù tàn bạo, anh chị em tù chính trị ở Ngục Kon Tum đã tổ chức một cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt. Cuộc đấu tranh này tổ chức rất chu đáo, đảm bảo yếu tố bí mật, rèn luyện hàng ngũ trở nên gang thép, có chương trình hoạt động hàng ngày, có “bản tuyên ngôn chính trị đặc biệt” và có thể nói từ trước chưa có một cuộc đấu tranh nào trong tù làm đến mức ấy. Cuộc đấu tranh có tính lịch sử này đã vạch trần ý đồ chiến lược đen tối của địch và chính sách xảo quyệt dùng người Việt diệt người Việt, dùng người Thượng diệt người Kinh gây hận thù và chia rẽ dân tộc trước dư luận trong và ngoài nước. Cuộc đấu tranh mang ý nghĩa chiến lược này đạt kết quả vô cùng rực rỡ: kẻ thù của giai cấp và của dân tộc phải bỏ ngay công trường làm đường và bãi bỏ vĩnh viễn Ngục Kon Tum.
Theo UBND tỉnh Kon Tum thì để xây dựng và tôn tạo khu di tích này tháng 6/2010 tỉnh đã tách di tích Ngục Kon Tum ra khỏi Bảo tàng Kon Tum, xây dựng khu di tích này thành khu độc lập rộng khoảng gần 4 ha. Những hạng mục trong khu lịch sử này gồm: Nhà bia, tượng đài chiến thắng, hai ngôi mộ các liệt sĩ chôn chung trong cuôc đấu tranh Tuyệt Thực và Lưu Huyết, gò đất các chiến sĩ tại nhà tù đắp bắc qua sông Đăk Bla… đều được tu sửa, tu bổ hoàn chỉnh. Ngục Kon Tum đã trở thành một biểu tượng hết sức tự hào của Kom Tum nói riêng và Việt Nam nói chung, trở thành điểm tham quan lịch sử của biết bao người Việt Nam và du khách quốc tế.

Làng Kon Klor
Bên dòng sông Đăk Bla hiền hòa, có ngôi làng Kon Klor xinh xắn, tràn ngập màu xanh, thấp thoáng những ngôi nhà sàn còn giữ nguyên vẹn kiến trúc Ba Na độc đáo với màu gỗ nâu trầm, những chi tiết trang trí ấn tượng. Kon Klor không chỉ có khung cảnh thanh bình mà còn có tiếng với tài năng dệt thổ cẩm và rượu ghè thơm ngon.

Bước đến làng Kon Klor điều du khách ấn tượng đầu tiên là ngôi làng được bao phủ bởi một màu xanh ngút ngàn, xanh bắt đầu từ những cây me dọc đường đi, đến bãi mía, vườn rau,…Đây là một trong những ngôi làng của người Ba Na vẫn còn lưu giữ kiến trúc độc đáo và nghề thủ công truyền thống, rất đáng để bạn bước đến thăm quan một lần. Theo tiếng Ba Na, Kon là “làng”, còn K’lor là “gòn rừng” – một loại cây thân cao to, da xanh láng, trái thuôn dài. Cứ vào khoảng tháng Ba, trái khô nở bung, bông bên trong ruột tách ra, bay tung khắp trời trắng xóa. Làng Kon Klor có nghĩa là “làng gòn rừng” vì trước đây quanh làng có rất nhiều cây gòn rừng mọc hoang, nay chỉ còn sót lại vài cây mọc rải rác quanh những ngôi nhà sàn.
Trong làng, có rất nhiều ngôi nhà sàn mang dáng dấp kiến trúc Ba Na cột bằng gỗ chắc chắn, gầm cao, trang trí hoa văn tỉ mỉ. Có 2 điểm tham quan khá thú vị mà bạn không thể bỏ qua đó chính là Nhà rông Kon Klor và cầu treo Kon Klor. Nhà rông Kon Klor được xây dựng trên một vị thế rất đẹp, trước mặt là con đường Trần Hưng Đạo thẳng tắp, rộng thênh thang, bên phải là cầu treo xinh đẹp, xung quanh những ruộng mía xanh ngút ngàn. Nhà rông được thiết kế theo kiểu truyền thống với chất liệu hoàn toàn bằng gỗ, tranh, tre, nứa, lá với những hoa văn, họa tiết rất công phu. Những nghệ nhân người làng Kon Klor đã phối hợp rất ăn ý, để giữ gìn được nét đặc trưng của mình trên Nhà rông. Mái Nhà rông Kon Klor cao vút, vững chãi, là điểm tựa cho hồn làng, vừa là niềm tự hào của những nghệ nhân người Ba Na. Bên cạnh Nhà rông là Cầu treo Kon Klor – chiếc cầu nối đôi bờ sông Đăk Bla huyền thoại, như một nét điểm xuyết duyên dáng cho phong cảnh nơi đây. Thời khắc đẹp nhất của chiếc cầu này là những buổi chiều, khi hoàng hôn buông xuống, mặt trời như một trái cầu lửa đang bốc cháy, ánh sáng tỏa loang loáng trên dòng sông rộng mênh mông. Đứng trên thành cầu nhìn ra xung quanh, chỉ một không gian rộng mênh mông bát ngát, thấy mình thật nhỏ bé trước núi rừng trập trùng trước mắt…
Tuy gần ngay trung tâm thành phố nhưng làng Kon Klor vẫn giữ nguyên được những nét đẹp truyền thống của người Ba Na. Nhận thấy việc trình diễn cồng chiêng là nét văn hóa đặc trưng, được công nhận là Di sản văn hóa Thế giới, nên làng đã sớm kén người, chọn nhạc cụ, thành lập đội nam cồng chiêng một đội nữ múa xoang để phục vụ trong các dịp lễ hội. Không chỉ phục vụ dân làng trong các dịp lễ hội mà đội chiêng và đội xoang còn được nhiều cơ quan, đơn vị mời đi biểu diễn phục vụ trong các dịp lễ hội hay phục vụ khách du lịch. Đến làng Kon Klor trong không khí nhộ nhịp của lễ hội, hòa vào đêm cồng chiêng rộn rã, nhất định bạn phải thử rượu ghè của làng. Rượu ghè Kon Klor chế biến theo phương pháp thủ công, đúng các quy trình làm rượu truyền thống, nên hương vị đậm đà, giữ nguyên chất men say từ núi rừng. Ngoài các nguyên liệu thông thường để làm rượu như ngô, sắn, gạo,…còn có rượu được làm từ cây gào (cây kê) – loại rượu công phu nhất, quý nhất, thơm ngon nhất. Các loại rượu ghè thông thường được trong nhiều dịp, thậm chí là ngày thường nhưng rượu gào chỉ được sử dụng khi có lễ lớn và không phải nhà nào cũng có được. Cây gào được bà con trồng trên nương rẫy vào tháng tháng 4, tháng 5, đến tháng 10 thì vừa kịp chín. Bà con chọn cắt bông chín đều, gùi về, đập hạt, phơi khô, sàng sảy sạch rồi cất vào nơi khô thoáng để dành nấu rượu. Để có một ghè rượu gào đúng tiêu chuẩn thơm ngon, để cả năm không hỏng đòi hỏi ở người làm rất nhiều công sức và cả sự thành tâm. Hạt gào trước khi đem nấu rượu phải được ngâm nửa ngày, đãi sạch cám rồi cho vào nồi nấu chín thành cơm. Rải đều cơm gào ra nia rộng cho nguội hẳn, sau đó đem men từ lá cây rừng trộn vào, thêm cả ớt, riềng, tiêu rừng nghiền nhỏ. Những nghệ nhân làm rượu lâu năm cho biết, bí quyết để có ghè rượu thơm ngon đặc biệt, có dư vị ngọt ngào thì thêm nửa bát nếp đỏ hoặc nếp trắng đã nấu chín, đánh tơi nguội. Tất cả trộn đều theo phơi khô chừng 3 ngày nắng rực thì trút vào ghè, vặn chặt lại cất vào góc nhà, chừng hơn 1 tháng sau mới uống được.

Thổ cẩm cũng là một mặt hàng thủ công nổi tiếng của làng Kon Klor xinh đẹp, những mặt hàng được du khách ưa thích nhất là: váy áo, túi xách, tấm đắp, tấm choàng. Đến làng, bạn rất dễ bắt gặp những cô gái Ba Na da ngăm nâu, khỏe mạnh, duyên dáng, đang ngồi chăm chỉ bên khung cửi, khéo léo đưa từng sợi chỉ. Thổ cẩm làng Kon Klor có hoa văn tinh tế, đường nét mềm mại và màu sắc hài hòa chứ không quá rực rỡ, phô trương như kiểu thổ cẩm dệt công nghiệp. Nhờ đó mà làm nên cái duyên riêng cho những cô gái khi khoác trên mình những vật dụng từ thổ cẩm. Hiện nay, thổ cẩm của làng không chỉ phục vụ cho bà con mà còn được nhiều thương lái từ thành phố Hồ Chí Minh tìm về mua với số lượng lớn. Bạn cũng có thể tìm những đồ lưu niệm nhỏ xinh như nhà rông, đàn t’rưng, gùi…Dù vật dụng bé nhỏ nhưng đã được những nghệ nhân Ba Na thổi hồn vào, tuy mộc mạc nhưng chứa đựng cả không gian sống của người làng Kon Klor hiền hòa, dễ mến.
Một lần đến Kon Klor bạn sẽ nhớ mãi ngôi làng bé xinh, thanh bình, nhớ chiếc cầu treo lấp lánh nước mỗi buổi chiều tà, nhớ Nhà rông uy nghiêm, vững chãi, nhớ hình ảnh những cô gái chàng trai Ba Na tươi cười, …Và tình yêu thương sẽ còn đọng mãi, đọng mãi như lời bài hát “Chiều qua cầu treo Kon Klor”của nhạc sỹ Lê Minh Thế: “Chiều trên bến sông Kon Klor, nước xanh một màu thương nhớ, có ai về bên kia đó, chìm trong bóng núi xanh lơ. Chiều lên bến sông Kon Klor, tiếng ai trên cầu treo đó, hay tiếng nước reo mạn đò? Chiều qua cầu treo Kon Klor, bỗng thương một vùng quê nhỏ, cầu nối đôi bờ tuổi thơ. Thôi, buồn chi nhé, con đò”./.